Dành cho Hẹn bác sĩ
(02) 9724 7177
  • Tận Hưởng Thị Lực Rõ Ràng
    ở mọi Khoảng Cách

    Đục thủy tinh thể

  • Tận Hưởng Chất Lượng của
    Thị Lực một lần nữa

    Thoái Hóa Hoàng Điểm

  • Bảo Vệ Thị Lực Của Bạn

    Bệnh Võng Mạc Tiểu Đường

  • Tận Hưởng Cuộc Sống
    không có Kính

    Phẫu Thuật Khúc Xạ

  • Tập Trung Trở Lại một lần nữa

    Phẫu Thuật Tăng Nhãn Áp

  • Cải thiện Bề Ngoài và Sự Thoải
    Mái cho Mắt Của Bạn

    Phẫu Thuật Mộng Thịt Mắt

  • Truyền Cảm Hứng Cho
    Sức Khỏe Tốt Hơn

    Kiểm Tra Mắt Trẻ Em

  • Phục Hồi Thị Lực Rõ Ràng
    ở Nhiều Khoảng Cách

    Cấy Ghép Thủy Tinh Thể Đa Tròng

KHÁM MẮT TRẺ EM

Tại sao trẻ cần được khám mắt?

Kiểm tra thị lực và khám mắt cho trẻ rất quan trọng vì nhằm phát hiện sự sụt giảm thị lực ở trẻ. Thị lực yêu ở trẻ có thể ảnh hưởng đến việc học của trẻ, hoặc có thể dẫn đến mù lòa. Trẻ có thể tăngnguy cơ mắc bệnh mắtdo sinh sớm, có tiền sử bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh (mờ thủy tinh thể), các bệnh chuyển hóa hoặc bệnh di truyền, và những bệnhthần kinh. Những bé nàynên được kiểm tra mắtđể đượcsớmphát hiện các khiếm khuyết thị giác. Chính vì thế, việc kiểm tra cẩn thận hệ thống mắt giúp xác định và chữa trị các bệnh về mắt khác nhau ở trẻ.

Thời gian kiểm tra mắt

Ở giai đoạn sau khi sanh, mắt thường được kiểm tra ngay lập tức sau khi sinh và tiếp tục chu kỳ đi kiểm tra thị lực. Tất cả trẻ sơ sinh nên được kiểm tra trước 6 tháng tuổi đểkhám bệnh mắt lé, phát hiện bệnh bệnh nhược thị, và định hình mắt. Mắt của trẻ sơ sinh nên được kiểm tra cho đến 3, 4 năm tuổi và cho đến khi có thể thực hiện đo thị lựcchính xác (thử thị lực).

Các công đoạn kiểm tra mắt

Bác sĩ của bạn sẽ kiểm tra mắt dựa trên tuổi của trẻ.

Các bài kiểm tra mắt cho trẻ bao gồm:

Đánh giá mi mắt và ổ mắt

Bác sĩ của bạn sẽ kiểm trasự cân xứng và chức năng của mi mắt và ổ mắt (khoang xương bao phủ mắt và các cơ của mắt). Nếu ổ mắt của một mắt không cân đối so với mắt còn lại, bác sĩ sẽ tiếp tục kiểm tra mắt có khối u hay không, hoặc sự dị thường của khung xương ổ mắt.

Kiểm tra ngoài

Bác sĩ của bạn sẽ kiểm tra màng cứng (phần màu trắng của mắt), kết mạc (mô trong suốt bao bọc màng cứng), giác mạc (phần trong suốt bao phủ phần màu của mắt), và tròng đen (phần màu của mắt) bên ngoài với sự trợ giúp của bút ánh sáng.

Sự vận động của mắt

Trẻ cũng như trẻ nhỏ thấy khó khăn để tập trung theo dõi một mục tiêu sẽ được kiểm tra cân đối mắt. Các bài kiểm tra cân đối mắt được thực hiện để phân biệt bệnh mắt lé thật sự(mắt không cân đối) vớibệnh mắt lé kim (mắt nhìn lé nhưng thật sự không có lé).

Những bài kiểm tra sự vận động của mắt bao gồm:

  1. Kiểm tra phản xạ ánh sáng của giác mạc, bác sĩ sẽ dùng một bút ánh sáng để kiểm tra sự phản xạ ánh sáng từ giác mạc. Một phản xạ ngoài trung tâm của mắt sẽ chỉ ra sự mất cân bằng cơ mắt.
  2. Trong kiểm tra che chéo mắt, trẻ phải nhìn thẳng vào một biểu đồ hoặc một đồ chơi có tiếng động. Sau khi che một mắt, chuyển động của mắt không bị che sẽ được kiểm tra bằng cách sử dụng một đồ che mắt (dụng cụ giúp che tầm nhìn của một mắt). Bất cứ chuyển động lệch hướng trong hoặc ngoài sẽ chỉ ra sự mất cân đối của mắt.
  3. Kiểm tra strereo chấm E ngẫu nhiên được dùng để đánh giá khả năng nhận dạng vật thể với sự giúp đỡ của các tấm thẻ. Bác sĩ của bạn sẽ yêu cầu trẻ nhận dạng từ “E” trên tấm thẻ E mẫu. Sau khi trẻ được cho đeo kiếng stereo, bác sĩ của bạn sẽ hoán đổi ngẫu nhiên các thẻ. Trẻ của bạn sẽ phải xác định chính xác từ “E” giơ lên từ các thẻ mẫu trống trong 4 trên 6 lần thử.

Kiểm tra đồng tử

Đồng tử mắt phải tròn, đồng đều, và phản ứng với ánh sáng. Đồng tử phản ứng chậm có thể dobệnhvõng mạc hoặcbệnhthần kinh thị giác (vận chuyển thông tin từ võng mạc đến não). Nếu kích cỡ của đồng tử này lớn hơn đồng tử kia, hoặc cả hai đồng tử lớn hơn 1 mm, có thểlà có một sự rối loạn thần kinh nghiêm trọng và đòi hỏi các xét nghiệm mắt khác.

Kiểm tra phản xạ màu đỏ

Kiểm tra phản xạ màu đỏ có thể phát hiện sự bất thường ở mặt sau của mắt, và độ mờ đục trong trục thị giác. Kiểm tra này được thực hiện trong một phòng tối để tăng độ giãn nở của đồng tử. Bác sĩ của bạn sẽ tập trung kính soi đáy mắt vào mỗi đồng tử cách từ 12 đến 18 inch và cùng lúc xem cả hai mắt. Màu vàng-cam sáng hoặc xám sáng chỉ ra phản xạ màu đỏ. Sự xuất hiện của phản xạ trắng, các điểm đen trên phản xạ đỏ, phản xạ màu đỏ đục, và thiếu phản xạ đỏ chỉ ra bệnh nhân cần các kiểm tra mắt khác.

Các kiểm tra thêm cho trẻ 3 tuổi và lớn hơn bao gồm:

Đo thị lực

Kiểm tra này nên được thực hiện ở trẻ trên từ 3 tuổi trở lên; trong trường hợp trẻ không hợp tác, nên cố gắng thử lại sau 4 đến 6 tháng.

Biểu Đồ Đo Snellen

Trẻ sẽ được yêu cầu đọc các hàng trên biểu đồ và xác định chính xác ít nhất 4 đến 6 trong hàng. Các hàng trên biểu đồ sẽ được giảm – nhỏ hơn từ từcho đến khi trẻvẫn còn nhận dạng chính xác. Công đoạn này được thực hiện trên mỗi mắt bằng cách cùng lúc che mắt kia. Trẻ đeo kiếng vẫn thực hiện kiểm tra mà không cần bỏ kiếng ra.

Kiểm tra Tumbling E (E Ngang) hay HOTV

Kiểm tra E ngang hay HOTV có thể được dùng cho trẻ không có khả năng nhận dạng ký tự và số. Kiểm tra này bao gồm các biểu đồtrên tường được soạn bởi các chữ E hoặc H, O, T, và V nằm ngang. Bác sĩ của bạn sẽ chỉ ra một ký tự trên biểu đồ, và trẻ sẽ được yêu cầu nhận dạng chữ đúng trên tấm bảng kiểm tra.

Thẻ Allen hoặc Biểu Tượng LH

Những kiểm tra này bao gồm các tấm thẻ chớp sáng và hình ảnh trên đó, ví dụ một ngôi nhà, chiếc bánh, cái điện thoại, hoặc con ngựa. Trẻ sẽ được yêu cầu nhận diện những ảnh này trước khi thật sự kiểm tra thị lực. Trong kiểm tra thẻ Allen, điểm số thị lực được tính dựa trên khoảng cách mà trẻ có thể nhận diện ảnh chính xác. Trong kiểm tra ký hiệu LH, kết quả đo thị lực được ghi lại dựa trên kích cỡ nhỏ nhất của biểu tượng được nhận diện bởi trẻ ở khoảng cách 10 feet (3,05 mét).

Soi đáy mắt

Bác sĩ của bạn sẽ kiểm tra thần kinh thị giác và võng mạc bằng một kính soi đáy mắt. Soi đáy mắt được thực hiện ở trẻ có thể hợp tác và có thểtập trung tầm nhìn trên một món đồ chơi.